Ca Dao Miền Nam
Vài ghi chú
Chúng
tôi sưu tầm ca dao miền Nam (ḥ, vè, hát ru) với
sự mong muốn t́m lại những câu ca lời hát
của tổ tiên vùng "đất mới".
Tài liệu ca dao
cả nước khá phong phú: từ những tập hàng
mấy trăm trang tới những trang web với hàng ngàn
bài ca dao. Chúng tôi cố gắng lọc lừa từ trong
những tài liệu nầy những bài ca dao của
miền Nam, nhưng chắc chắn sẽ không tránh
khỏi lầm lẫn v́ nhiều lư do. Mong quư vị và các
bạn bổ túc.
Sau đây là một số bài ca dao miền Nam
đă được chọn ra từ quăng 18000 "bài"
trong các tài liệu t́m được, thêm vào đó một
số bài ghi lại từ kư ức. Hiện chúng tôi c̣n
một số bài chưa thẩm xét (quăng 10000 bài) nhưng nghĩ
rằng số lượng độ 2400 bài ca dao
"gọi là" miền Nam đó, quí vị độc
giả có thể làm nền tảng để nếu
cần bổ túc hoặc loại ra (nếu sai).
Ở đây chúng tôi ghi nhận ư kiến
của 2 bằng hữu Trần Minh Khôi và Hồ
Đắc Nhơn vể từ ngữ "Chợ
Dinh": Có phải bài
Đố ai con rít mấy chưn,
Cầu Ô mây nhịp, chợ Dinh mấy
người ...
là
một bài ca dao miền Nam hay không.
Sự thật nếu
cố t́nh giải thích, "Chợ Dinh" có nhiều
nơi trong thời kỳ nam tiến ở miền Nam, ít
nhứt hiện nay c̣n một chợ Dinh ở miền Nam,
nhưng cầu Ô th́ ... có lẽ chỉ có ở B́nh
Định. Dù vậy, bài ca dao "Đố ai ..."
đă phổ biến ở miền Nam bằng nguyên văn,
chớ không là bản cải biên, sâu xa đến nỗi
khó có nơi nào trẻ con không nghe hay không biết, th́ ... ta
tranh nhau làm ǵ về xuất xứ bài ca dao đó. Đă là
văn hóa truyền khẩu, ca dao dễ dàng vượt biên
giới không chứng tích, việc Nam kỳ hóa ca dao
miền Trung là một đề tài với vô số dữ
liệu.
Chúng tôi không có tham vọng làm một tự
điển cho ca dao miền Nam. Dù vậy, những chỗ
sai, những chỗ thiếu sót cần được
bổ túc, chúng tôi rất mong được nghe lời
chỉ bảo của quư vị.
Những bài ca dao nầy được
xếp theo mẫu tự. Cách xếp nầy sẽ giảm
sự trùng hợp hơn xếp theo đề tài, nhưng
với một số lượng khá lớn cũng không
tránh khỏi. Đó là trường hợp có hay không có loại
từ ở đầu câu (con, cái, ...), đó là
trường hợp thay
đổi cách xưng hô cho cùng một câu ca dao (anh/em,
qua/bậu, người/ta ...), đó là trường hợp
thay đổi câu xướng (thí dụ dùng "chim quyên
..." để thay cho "trăng lên khỏi núi
...").
Một điểm cần phải
đặt ra là ở trường hợp xếp theo
mẫu tự, có thể xảy ra, khi t́m không ra bài ca dao,
như trường hợp sau:
"Trồng trầu th́ phải khai
mương,
Làm trai hai vợ phải thương cho
đồng"
Văn sĩ,
cựu quân nhân, Trần Bạch Đằng ghi thay v́
"trồng trầu", "lập vườn".
Bằng hữu Lâm Văn Bé cũng đồng ư với
TBĐ trong "Người Nam Kỳ", khác với kư
ức của người sưu tầm. Đặng Như Tây (Mười
Tám Thôn Vườn Trầu, ĐNCL số 2) ghi lư do v́ sao
"trồng trầu th́ phải khai mương".
Trồng trầu hay lập vườn đều có ư
nghĩa tùy hoàn cảnh nông nghiệp của từng vùng
miền Nam của đất nước. Nhưng -
trồng trầu hay lập vườn - là điều khó
khăn khi sắp xếp theo mẫu tự.
Nguồn
Những tài liệu được ghi sau có tối thiểu là 10 bài ca dao được chọn.
[1] Vũ
Ngọc Phan: Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt nam, in
lần thứ 8, 1977.
[2] Lư
Nhất Vũ; Lê Giang; Lê Anh Trung: Ḥ Nam bộ (Vidéo)
[3] Lê Giang:
Bộ hành với ca dao. NXB Trẻ, 2004.
[4] Ghi lại
từ kư ức Phan Tấn Tài; Đỗ Thanh Vân
[5] Hà
Phương Hoài: Tự điển ca dao
(www.vietnam-on-line.com;
<http://e-cadao.com>)
[6] www.vietthings.com
<http://www.vietthings.com>
[7] Nguyễn
Đăng Thục: Tư tưởng Việt Nam, NXB Khai
Trí, 1964
[8] Đoàn Thị
Thu Vân: Chất hóm hỉnh trong ca dao t́nh yêu Nam Bộ.
(www.thoangsaigon.com <http://www.thoangsaigon.com>)
[9] Ghi nhanh
một buổi tọa đàm tại tư gia gs Trần
Văn Khê của Đỗ Thanh Vân, 1973.
[10] Minh Hương:
Hoa đồng cỏ nội, 1962.
Động cơ để
chép lại ca dao miền Nam
Đi t́m lại
quê hương, t́m lại ông bà của vùng đất
mới là để tham nghiệm một cách cô đọng
ca dao miền Nam, vốn là thiểu số trong kho tàng ca dao
của cả nước, là để tránh hoàn cảnh
đọc mà phải suy xét liệu câu ca dao này có phải là
của miền Nam hay không. T́m lại quê hương qua muông
thú, qua cây cỏ, qua côn trùng - mà một phần đă bị
tuyệt chủng sau nhiều trăm năm -, qua cách ăn
nói, cách thổ lộ tâm t́nh ... trong đời sống
người b́nh dân miền Nam. T́m lại ông bà qua những
phong tục, những lối tự trào - đôi khi chua chát
hoặc đau đớn nhưng vẫn không giấu
giếm -, qua những sự quan sát thiên nhiên một cách tinh
tế, những cách phát biểu hầu như vô nghĩa
nhưng thâm trầm ...
Những trở ngại
Lượm
lặt những bài ca dao của miền Nam sẽ không tránh
khỏi những khó khăn, trừ những bài có mang
địa danh hay kể một biến cố nào đó
của miền Nam và trừ những bài luân lư có giá trị
cho cả nước. Đó là trường hợp căn
cứ theo từ ngữ hoặc cú pháp để
lượm lặt.
Bợ ngợ khi
chọn lựa nếu phải dùng từ ngữ để
"nhận diện" một bài ca dao:
1)
V́
ca dao là một dạng văn hóa truyền khẩu cho nên
dễ vượt biên giới, mà khi đă vượt biên
giới từng vùng của đất nước lại
được thay đổi (cải biên).
2)
Từ
ngữ của vùng gốc, chủ yếu Thuận
Quảng, được bảo tồn ở vùng
đất mới - nhứt là ở thôn quê - đưa tới
hoàn cảnh nhiều bài ca dao của miền Nam dùng từ
ngữ miền Trung.
3)
Từ
ngữ đặc biệt nhưng được dùng
nhiều vùng của đất nước, điển h́nh
là chữ "tui" (tôi) (vừa được dùng ở
miền Trung và ở đồng quê miền Nam).
4)
Người
đi ghi chép ca dao đă "cải biên" một số
từ ngữ, b́nh thường là để chính ḿnh
hiểu hay v́ tự nghĩ rằng những từ cải
biên sẽ "hay" hơn, "đúng" hơn
hoặc "hợp lư" hơn nên đưa tới hoàn
cảnh một số bài của miền Nam được
diễn tả bằng từ ngữ của miền
Bắc. Trường hợp này nếu không được
ghi rơ là ca dao miền Nam th́ số bài đó sẽ không
được chọn.
5)
Về
phần chủ quan: v́ đă quen dùng từ ngữ chung
của cả nước, v́ quen với cú pháp, với ngôn
từ miền Bắc, miền Trung nên khi chọn lựa
không tránh khỏi bỏ sót lại (hay giữ lại)
một số ca dao của hai vùng này.
Sắp xếp
Như đă
đề cập, những bài ca dao được xếp
theo mẫu tự để giảm thiểu sự lập
đi lập lại, nhưng có một số bài được
ghi chung với nhau hoặc v́ cùng nghĩa, hoặc v́ thể
nhập tương tự. Kết quả là số
lượng quăng 2400 bài được lựa chọn, gom
lại thành 1400. Sau đây 2 thí dụ:
-
Đèn
nào cao cho bằng đèn ông Chánh,
Bánh nào trắng cho bằng bánh ḅ bông. Anh thương
em từ thuở má bồng, Bây giờ em lớn, có
(lấy) chồng bỏ anh. [1][4] (Đèn nào cao bằng
đèn Châu Đốc Gió nào độc bằng gió G̣ Công Anh
thương em từ thuở má bồng Bây giờ em khôn
lớn lấy chồng bỏ anh.[3]) (Đèn nào cao bằng
đèn Ông Chánh, Bánh nào trắng bằng bánh ḅ bông, Trách ai
ăn ở hai ḷng, Sang sông rồi nỡ quên công
người chèo. [5]) (Đèn nào cao bằng đèn Châu
Đốc, Đất nào
dốc bằng đất Nam Vang, Một tiếng anh than hai
hàng lụy nhỏ, Em có chút mẹ già biết bỏ ai nuôi.
[5]) ...
-
Chim
khôn kiếm nơi mà
đậu, Gái khôn chọn nơi nhân hậu mà nhờ.
Đừng ham lấy công tử bột dật dờ
tấm thân. [3][5] (Con chim khôn kiếm cành xanh mà đậu
Gái khôn kiếm trai đôn hậu làm chồng Cô bác xa ḍm ngó
nói phụng với rồng sánh đôi.[3]) (Chim khôn kiếm
nơi lùm xanh nó đậu Gái như em sao không kiếm
nơi nhân hậu làm chồng Thả chi theo đàng
điếm đứng đường hư thân.[3]) (Chim
khôn kiếm lùm cây mà đậu Gái khôn kiếm thằng
chồng nhậu mà nhờ Mai sau nó chết bụi chết
bờ khỏi chôn.[3]) (Chim khôn th́ kiếm cây lành mà
đậu, C̣n gái khôn th́ kiếm trai ăn nhậu mà
nhờ. Ngày sau chết bụi chết bờ khỏi
chôn.[4])
V́ ca dao không có
xuất xứ và là loại văn hóa truyền khẩu, nên
không thể đặt vấn đề nguyên bản hay
phiên bản, chúng tôi, v́ thế, ghi lại tất cả các
cách phát biểu như trên, không đánh giá mà cũng không
đặt vấn đề chính phụ. Cuối thí dụ
thứ nh́ chúng tôi có ghi thêm phần "xuống vọng
cổ" và câu đầu của 1 bài thơ kháng chiến
(Thơ say, với mục đích chống rượu chè)
để so sánh với bài trước đó.
"Thơ kháng chiến" và "ḥ
lơ" là hai phương cách truyền thông có nhạc
phụ họa của ca dao miền Nam. Âm điệu và
tiết tấu của thơ kháng chiến đă
được nhạc sĩ Anh Việt Thu ghi trong phần
nhập của bản Tám Điệp Khúc, ḥ lơ
được hai nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba và
Phạm Duy ghi thành nhạc. Trong khi ḥ lơ có thể sử
dụng những bài 6-8 của ca dao để tŕnh bày -
thường dưới dạng tập thể - th́ trái
lại thơ kháng chiến là loại thơ 8-6 (khởi
bằng câu 8 và kết bằng câu 6) có phần nói lối và
xuống câu như hát vọng cổ, được sáng tác
(vô danh) thời kháng chiến. Rất tiếc hiện
chưa t́m được tài liệu về thơ kháng
chiến, trong phần sưu tầm chỉ có 2 bài ghi
lại từ kư ức về loại này.
Phan Tấn Tài